Hotline : 01234.689.345

Ung thư vú là dạng u ác tính. Nó xảy ra khi các tế bào vú trở nên bất thường và phân chia không có kiểm soát hay trật tự. Các tế bào bình thường phân chia và sản xuất một cách có trật tự. Đôi khi trật tự của quá trình này bị phá vỡ và tế bào phát triển và phân chia không kiểm soát tạo thành các mô thừa phát triển thành khối u còn gọi là bướu.

Rủi ro và nguyên nhân

Ung thư vú thường được kích thích bằng các chu kì lặp đi lặp lại hàng tháng của các kích thích tố nữ bình thường. Độ dài của thời kỳ thụ tinh, tức là từ lần đầu tiên có kinh cho đến khi mãn kinh, là một yếu tố nguy cơ. Phụ nữ mãn kinh ở tuổi 55 có nguy cơ cao hơn rất nhiều so với người mãn kinh năm 45 tuổi. Độ tuổi mang thai lần đầu tiên cũng quan trọng: có thai lần đầu sau 30 tuổi làm tăng nguy cơ so với những người mang thai lần đầu trước 30 tuổi. Tương tự như vậy, phụ nữ chưa bao giờ mang thai cũng có nguy cơ cao hơn. Cho con bú tăng khả năng chống lại bệnh ung thư vú. Liệu pháp hormone thay thế làm tăng nguy cơ ung thư vú và cần được thảo luận trước khi bắt đầu điều trị.

Từ 5 đến 10% của tất cả các ca ung thư vú có liên quan đến các yếu tố di truyền. Các gen BRCA1 và BRCA2 đã được xác định và có thể liên quan đến ung thư vú xuất hiện trong khoảng xấp xỉ một nửa của những gia đình có tiền sử rất mạnh về bệnh ung thư vú và / hoặc ung thư buồng trứng.

Triệu chứng

Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư vú

Khoảng 80% phụ nữ bị ung thư vú trước tiên đến tư vấn bác sĩ vì những triệu chứng mà họ tự nhận thấy. Phổ biến nhất là xuất hiện một khối u ở vú. Khối u có thể đau hoặc không. Đôi khi núm vú có thể bị nhăn lại (tụt vào trong) hoặc chảy máu, hoặc vùng da ở vú bị sưng. Núm vú có thể tiết dịch. Các hạch bạch huyết ở nách cũng có thể bị phình to. Trong trường hợp nghiêm trọng, ung thư vú có thể lây lan đến gan, phổi, xương, hoặc não.


Chẩn đoán
Xét nghiệm chẩn đoán

Một khối u vú gây nghi ngờ thường được kiểm tra X-quang, được gọi là chụp nhũ ảnh, và sinh thiết bằng kim. Ngay cả khi kết quả chụp nhũ ảnh là âm tính, sinh thiết vẫn có thể cần thiết.

Chụp nhũ ảnh là một phương pháp X-quang giúp xác định mức độ phát triển của khối u. Đôi khi nó được kết hợp với siêu âm vú để xác định khối u thuộc dạng rắn hay nang, tức là chỉ chứa đầy chất lỏng. Chụp nhũ ảnh có thể hơi khó chịu vì vú bị nén vào một bề mặt kim loại để hình X-quang có chất lượng tốt. Chụp nhũ ảnh có ích trong quá trình kiểm tra sàng lọc hơn là trong quá trình đánh giá mức độ triệu chứng của khối u. Ngay cả khi kết quả chụp nhũ ảnh hoàn toàn bình thường, khối u có triệu chứng ở vú vẫn cần phải được sinh thiết.

Sinh thiết là việc lấy mẫu mô từ các khối u vú bằng cách sử dụng một ống lõi hay một kim mảnh và ống tiêm. Quá trình này có thể được thực hiện tại phòng khám. Mô được xử lý và gửi đến bác sĩ bệnh học, người sẽ quan sát mẫu mô dưới kính hiển vi. Bác sĩ bệnh học sẽ có thể xác định được mẫu mô có thuộc dạng ung thư không.

Kĩ thuật sinh thiết vú Mammotome là một công nghệ mới sử dụng thiết bị hỗ trợ chân không để lấy mẫu sinh thiết từ các khu vực tổn thương không sờ thấy. Thiết bị này có thể được định hướng bằng siêu âm hoặc X-quang. Mẫu mô nhỏ được lấy ra khỏi vú bằng cách sử dụng một kim rỗng được hướng dẫn chính xác vào vùng nghi ngờ bị tổn thương trong hình chụp nhũ ảnh. Thủ tục này thuộc dạng xâm lấn tối thiểu so với phương pháp sinh thiết phẫu thuật mở, và nó được thực ngoại trú. Nó có thể lấy mẫu từ những vùng bất thường nhỏ trong hình chụp X-quang, được gọi là vùng vôi hoá nhỏ, giúp chẩn đoán sớm ung thư vú. Nó được thực hiện dưới sự gây tê tại chỗ và kéo dài khoảng 45 phút.

Một khi ung thư được chẩn đoán, các xét nghiệm khác như chụp X-quang ngực, siêu âm gan và kiểm tra xương có thể được tiến hành để xác định xem ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể chưa.

Lựa chọn điều trị

Điều trị ung thư vú

Phẫu thuật thường là giải pháp đầu tiên cho bệnh ung thư vú. Mục tiêu quan trọng của phương pháp phẫu thuật là bảo tồn vú nếu có thể, và điều này đòi hỏi việc loại bỏ các tế bào ung thư một cách an toàn và tối thiểu nhất các mô xung quanh (hay là phương pháp đường cắt rộng).

Đối với một số bệnh nhân điều này là không thể và bắt buộc phải cắt bỏ toàn bộ vú bị ảnh hưởng cùng phần cơ phía dưới (cắt bỏ vú). Các hạch bạch huyết dưới nách có thể được cắt bỏ hoàn toàn khi phẫu thuật (cắt hoàn toàn vùng nách), hoặc một cách khác, thuốc nhuộm có thể được tiêm vào khu vực khối u nguyên phát để xác định tuyến đơn chủ chốt để loại bỏ (phương pháp lấy mẫu trọng điểm). Điều quan trọng là phải dự đoán khả năng ung thư sẽ tái phát.

Xạ trị sau phẫu thuật có thể là cần thiết nếu nghi ngờ tế bào ung thư còn sót lại trong các mô vú có thể dẫn đến tái phát ung thư vú sau này (tái phát cục bộ). Xạ trị ở ngực thường tiến hành trong 5 tuần. Xạ trị gần như luôn luôn được đề nghị nếu bệnh nhân chỉ được điều trị bằng phương pháp đường cắt rộng.

Hóa trị nhằm mục đích ngăn ngừa tái phát ung thư ở những mô nằm xa vú. Hóa trị thường được khuyến khích ở phụ nữ còn trẻ và kéo dài 3 đến 6 tháng. Có thể gây buồn nôn hoặc nôn nhẹ, rụng tóc, thờ ơ hay mệt mỏi, và mất cảm giác ngon miệng. Hầu hết phụ nữ có thể tiếp tục làm việc trong thời gian này. Việc lựa chọn các loại thuốc sẽ phụ thuộc vào sức khỏe chung của từng người và các vấn đề y tế khác, giai đoạn của ung thư, và các yếu tố nguy cơ khác.

Một số ca ung thư vú có thụ thể protein đặc biệt trên các tế bào ung thư, chẳng hạn như thụ thể oestrogen và progesterone, và thụ thể Her-2neu. Bệnh nhân ung thư vú có thụ thể oestrogen hoặc progesterone có nhiều khả năng được hưởng lợi từ việc bổ sung điều trị nội tiết tố. Đối với những bệnh nhân bị ung thư vú giai đoạn cuối, có các thụ thể Her-2neu, một dạng kháng thể dành cho her-2-neu đã được phát triển để sử dụng điều trị. Các nghiên cứu về kháng thể Her-2neu vẫn đang được phát triển, vì nó có khả năng gây tổn thương đến tim nên vẫn chưa được công nhận là phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong qui chế adj(prophylae).

Đôi khi hóa trị liệu được tiến hành trước khi phẫu thuật để thu nhỏ vùng ung thư vú trước khi phẫu thuật. Thường là trường hợp vùng ung thư vú đặc biệt lớn.

Ở phụ nữ lớn tuổi đã đến giai đoạn mãn kinh, không phải lúc nào cũng cần tiến hành hoá trị, mà chỉ cần sử dụng kích thích tố như tamoxifen. Điều này chỉ áp dụng với các trường hợp ung thư có thụ thể oestrogen hoặc progesterone dương tính.

Ung thư vú giai đoạn cuối

Ung thư vú có thể lây lan đến bệnh phổi, gan, xương hay não tại thời điểm chẩn đoán hoặc những năm sau khi ung thư vú ban đầu đã được cắt bỏ. Lựa chọn điều trị bao gồm điều trị nội tiết tố, hóa trị liệu, hoặc xạ trị.

Tiên lượng bệnh ung thư vú

Tiên lượng có nghĩa là dự đoán kết quả có thể xảy ra trong tương lai của một căn bệnh dựa trên các dữ kiện có liên quan. Tất cả các kết quả khám lâm sàng và xét nghiệm cũng như báo cáo bệnh lý đều rất quan trọng và phải được phân tích cùng nhau để tiên lượng được từng trường hợp ung thư vú.

5 giai đoạn phát triển ung thư vú

5 giai đoạn phát triển ung thư vú

Việc xác định giai đoạn bệnh ung thư vú có vai trò rất quan trọng, giúp các bác sỹ, chuyên gia y tế lựa chọn pháp đồ điều trị...

Cảm nghĩ khách hàng

Chứng nhận quốc tế

Mạng xã hội

Chính sách và bảo mật